Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố môi trường trong suốt quá trình ương và nuôi cá lóc đều nằm trong phạm vi thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển của cá. Cụ thể, các yếu tố như nhiệt độ, pH, độ trong, DO, TAN và NO2- đều đạt mức tối ưu, đảm bảo điều kiện tốt cho cá lóc sinh trưởng. Trong giai đoạn ương, tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá lóc giống dao động từ 0,39 - 0,54 g/ngày. Kích cỡ cá lóc giống khi thu hoạch đạt từ 11,9 - 16,2 g/con. Sau 45 ngày ương, tỷ lệ sống của cá dao động từ 65 - 88%, đồng thời năng suất đạt từ 5,20 – 7,26 kg/m2. Kết quả này mang lại hiệu quả kinh tế cao, với lợi nhuận từ 5,25 – 9,5 triệu đồng/vụ và tỉ suất lợi nhuận dao động từ 40,7% - 74,6%.
Ở giai đoạn nuôi thương phẩm, sau 6 tháng nuôi, khối lượng cá lóc đạt được trong ao dao động từ 818 - 891 g/con và trong vèo từ 823 - 990 g/con, tương ứng với năng suất đạt từ 12 - 15 kg/m2 đối với nuôi trong ao và 61,5 – 77,2 kg/m2 đối với nuôi trong vèo. Tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá nuôi trong ao đạt từ 4,46 - 4,86 g/ngày, trong khi cá nuôi trong vèo có tăng trưởng từ 4,49 – 5,42 g/ngày. Tỷ lệ sống của cá nuôi trong ao dao động từ 58,8 – 65,5%, trong khi tỷ lệ sống của cá nuôi trong vèo dao động từ 62,2 – 65,5%. Hệ số thức ăn của cá nuôi trong ao và vèo đều đạt mức tương đối tốt, dao động từ 1,20 – 1,33.
Về hiệu quả kinh tế, lợi nhuận từ việc nuôi cá lóc trong ao đạt từ 2.640.000 – 4.191.000 đồng/vụ/năm, trong khi nuôi trong vèo mang lại lợi nhuận từ 2.856.000 – 6.693.000 đồng/vụ/năm. Tỷ suất lợi nhuận từ nuôi cá lóc trong ao dao động từ 6,04 – 8,32%, thấp hơn so với nuôi trong vèo, với tỷ suất lợi nhuận từ 6,39 - 12,9%. Điều này cho thấy nuôi cá lóc trong vèo mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với nuôi trong ao.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu đạt được, nhóm nghiên cứu đề xuất tiếp tục triển khai các chương trình tập huấn và nhân rộng mô hình ương cá lóc từ cỡ giống nhỏ lên giống cỡ lớn bằng thức ăn chế biến sẵn. Đồng thời, nên phát triển mô hình nuôi thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp để tối ưu hóa sản lượng và nâng cao hiệu quả sản xuất. Các hộ nuôi cũng có thể rút ngắn thời gian ương giống xuống còn khoảng 30 ngày với kích cỡ giống nhỏ hơn trước khi thả nuôi thương phẩm, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm chi phí sản xuất.


Thêm đánh giá của bạn
Xếp hạng
Không có bài đánh giá nào!