Kết quả xác định được 112 loài thuộc 60 giống, 38 họ và 17 bộ trong ba lớp của ngành Porifera. Trong đó, lớp hải miên mềm Demospongiae chiếm ưu thế với 109 loài (97,32%), tiếp đến là lớp Calcarea với 2 loài (1,79%) và lớp Homoscleromorpha với 1 loài (0,89%). Các loài hải miên phân bố trong phạm vi độ sâu từ 0 đến 21 m, tập trung nhiều nhất ở khoảng 3–10 m. Phân tích chỉ số tương đồng Bray–Curtis cho thấy sự phân bố hải miên giữa các trạm nghiên cứu được chia thành 7 nhóm với mức độ tương đồng khoảng 75%. Sự phân bố của hải miên có mối liên hệ chặt chẽ với loại nền đáy, trong đó nền đá có độ phủ cao nhất khoảng 51,6%, trong khi độ phủ trung bình của hải miên trên các loại nền đạt khoảng 3,13%. Nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu khoa học về đa dạng sinh học và đặc điểm sinh thái của hải miên tại khu vực biển ven đảo Cồn Cỏ.


Thêm đánh giá của bạn
Xếp hạng
Không có bài đánh giá nào!