Nghiên cứu ứng dụng hệ thống sửa lỗi ghép cặp ADN (MMR) trong ung thư đại – trực tràng tại bệnh viện ung bướu Cần Thơ (2024)

Tác giả: Phạm Tấn Phúc
Định dạng tài liệu: Đề tài - Dự án

Xác định tỉ lệ biểu hiện protein sửa lỗi ghép cặp ADN (MMR) trong ung thư đại-trực tràng.

 

Xác định giá trị tiên lượng và tiên đoán của protein sửa lỗi ghép cặp ADN (MMR) trong điều trị ung thư đại-trực tràng.

 

Phí Download:
Miễn phí

Qua nghiên cứu 165 trường hợp ung thư đại – trực tràng tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Cần Thơ, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

 

Tỉ lệ biểu hiện protein sửa lỗi ghép cặp ADN (MMR) trong ung thư đại – trực tràng: Mất biểu hiện protein PMS2 chiếm tỉ lệ cao nhất 21,8%, trong khi MSH2 thấp nhất 4,8%. Các dạng mất cặp protein thường gặp gồm MLH1/PMS2 chiếm 9,7% và MSH2/MSH6 chiếm 4,8%. Tỉ lệ dMMR là 26,7%.

 

Mất biểu hiện protein MLH1 ở nhóm không có xâm nhập quanh thần kinh cao hơn so với nhóm có xâm nhập quanh thần kinh; đồng thời mất biểu hiện MLH1 ở nhóm có mức độ thâm nhiễm lymphô tại khối u mức độ cao cũng cao hơn so với nhóm thâm nhiễm lymphô mức độ thấp, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với lần lượt p = 0,018 và p = 0,005.

 

Mất biểu hiện protein MSH2 chỉ ghi nhận ở nhóm có thâm nhiễm lymphô mức độ cao và tình trạng mất biểu hiện protein ở nhóm có độ mô học cao cũng cao hơn nhóm có độ mô học thấp, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với lần lượt p = 0,003 và p = 0,019.

 

Mất biểu hiện protein MSH6 ở nhóm có thâm nhiễm lymphô mức độ cao tại mô u cao hơn nhóm thâm nhiễm mức độ thấp, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p = 0,001.

 

Mất biểu hiện protein PMS2 ở nhóm không có xâm nhập quanh thần kinh và nhóm có thâm nhiễm lymphô mức độ cao tại mô u cao hơn so với nhóm không có xâm nhập quanh thần kinh và nhóm có thâm nhiễm lymphô mức độ thấp, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với lần lượt p = 0,01 và p < 0,001.

 

Mất biểu hiện protein MLH1, MSH2, MSH6, PMS2 ghi nhận có mối liên quan với giai đoạn u, tế bào u xâm nhập mạch lymphô, tế bào u xâm nhập quanh thần kinh và mức độ thâm nhiễm lymphô bào ở mô u. Tuy nhiên, chưa ghi nhận có mối liên quan với loại mô học, độ xâm lấn u và di căn hạch.

 

Giá trị tiên lượng và tiên đoán của MMR trên bệnh nhân ung thư đại – trực tràng: Trung vị thời gian theo dõi là 37 ± 11 tháng. Kết quả cho thấy nhóm bệnh nhân có dMMR có thời gian sống còn toàn bộ cao hơn nhóm pMMR, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,04).

 

Ở nhóm bệnh nhân điều trị capecitabine, ghi nhận bệnh nhân dMMR có kết quả sống còn toàn bộ không khác biệt so với nhóm pMMR (p = 0,187).

 

Từ đó, chúng tôi xác định MMR có giá trị tiên lượng và có ý nghĩa trên bệnh nhân ung thư đại – trực tràng.

 

Thêm đánh giá của bạn

Vui lòng đăng nhập để viết đánh giá!

Tải ảnh lên
Bạn có thể tải lên tối đa 6 ảnh, kích thước tối đa của mỗi ảnh là 2048 kilobyte

Xếp hạng

(0.00 trên 5)
5 sao
0%
4 sao
0%
3 sao
0%
2 sao
0%
1 sao
0%

Không có bài đánh giá nào!